Truyện
[HotaBook - #ST - Chapter 2 + 3] Mật Mã Phù Thủy

Được viết bởi: Lexie :D


A Discovery Of Witches - Mật Mã Phù Thủy





Chapter 2

Chuông Oxford ngân nga bảy tiếng. Đêm tối chầm chậm tiếp nối trời chiều chạng vạng như vẫn thế suốt mấy tháng nay, và hiện tượng đó vẫn còn có thể kéo dài. Các thủ thư đã bật hết đèn đọc từ ba mươi phút trước, những vòng sáng màu hoàng kim nổi lên giữa không gian xám mờ.

Hôm này là ngày hai mươi mốt tháng Chín. Trên khắp thế giới, các phù thủy đang cùng nhau dùng bữa nhân tiết Thu phân để mừng lễ Mabon và chào đón những đêm đông sắp tới. Nhưng các phù thủy của Oxford thì sẽ tiến hành nghi lễ truyền thống này mà không có tôi. Tôi đã được đề cử diễn thuyết trong một hội thảo quan trọng vào tháng sau. Đến giờ tôi vẫn chẳng có được ý tưởng gì, và điều đó khiến tôi bắt đầu thấy sốt ruột. Trước ý nghĩ các cô nàng phù thủy đồng đạo của mình đang ăn tối ở nơi nào đó tại Oxford này, cái dạ dày tôi bắt đầu réo lên ùng ục. Tôi đã ở lì trong thư viện suốt từ chín rưỡi sáng mà chỉ mới ăn nhẹ vào buổi trưa.

Sean đã xin nghỉ hôm nay, và người thủ thư đang làm việc ở bàn tiếp tân là một người mới. Cô ta gây cho tôi một chút rắc rối khi tôi yêu cầu mượn một văn bản đang bị nát vụn, và cố gắng thuyết phục tôi sử dụng video thay thế. Cán bộ quản lý phòng đọc, ông Johnson, đã tình cờ nghe được và phải ra khỏi văn phòng để can thiệp.

“Tôi xin lỗi, tiến sĩ Bishop,” ông hớt hải nói, đẩy cái gọng kính đen tuyền nặng trịch trên sống mũi. “Nếu cô cần tham khảo bản thảo này cho việc nghiên cứu thì chúng tôi rất vui lòng được hỗ trợ.” Ông ta biến mất để tìm thứ bảo mật quý giá đó và giao nó cho tôi mà không quên kèm thêm những lời xin lỗi về sự bất tiện vừa rồi, và rằng nhân viên mới Gratified đã gây ra nhầm lẫn tai hại. Tôi đã trải qua một buổi chiều đọc sách vui vẻ.

Tôi kéo thanh cuộn từ hai góc cuốn cổ văn rồi đóng lại thật cẩn thận, hài lòng với lượng công việc mình đã hoàn thành. Sau khi đối mặt với cuốn sách phù thủy hôm thứ Sáu, tôi thà dồn hết tâm trí vào kì nghỉ cuối tuần để thực hiện các công việc thường lệ còn hơn là nghiên cứu thuật giả kim. Tôi điền vào các mẫu bồi hoàn tài chính, thanh toán các hóa đơn, viết thư giới thiệu, và thậm chí hoàn thành xong cả một bài bình luận sách. Các việc nhà lặt vặt theo trình tự bình thường như giặt là, uống trà quá trời là uống, và thử mấy công thức nấu nướng của chương trình dạy nấu ăn trên kênh BBC.

Sau một khởi đầu sớm của sáng nay, tôi dành cả ngày để chú tâm vào công việc trước mắt chứ không để tâm trí lang thang hồi tưởng lại những bức minh họa kì lạ của Ashmole 782 và bản viết da dê bí ẩn đó. Tôi ngó qua danh sách ngắn liệt kê mấy điều rối rắm cần làm trong ngày. Trong bốn vấn đề tôi liệt kê ra trong danh sách đó thì cái thứ ba là dễ giải quyết nhất. Câu trả lời nằm trong cuốn tạp chí thường kỳ, Những chú giải và thắc mắc, hiện đang nằm trên giá của một trong những tủ sách trải dài từ dưới đất lên tận trần nhà cao tít. Tôi đẩy ghế đứng dậy, quyết định gạch một mục trong tờ danh sách trước khi rời khỏi thư viện.

Người ta chỉ có thể tới với những giá sách phía trên cùng của phòng đọc Công tước Humfrey bằng một cái thang ván đã cũ mèm, và từ trên đó ta có thể nhìn thấy toàn cảnh các dãy bàn nơi đây. Tôi leo lên những bậc thang xoắn để tới chỗ mấy cuốn sách bìa vải thôi hồ cứng nằm trong một hàng sách được sắp xếp gọn gàng theo thứ tự thời gian. Chẳng có ai ngoài tôi và một giảng viên dạy môn văn học cổ đại đến từ trường cao đẳng Magdalen dùng tới chúng cả. Tôi đã định vị được chỗ cuốn sách và rồi lại rủa thầm. Nó nằm ở trên cùng của cái giá, quá tầm với.

Một tiếng cười khẩy làm tôi giật mình. Tôi quay đầu lại xem có ai ngồi ở cái bàn đọc tận cuối căn phòng dài không, nhưng chẳng thấy ai ở đó cả. Tôi lại nghe thấy nó lần nữa. Oxford vẫn là một thị trấn ma, và bất cứ ai còn ở trong trường đại học lúc này đều đã đi xuống thưởng thức một ly rượu nâu miễn phí ở phòng sinh hoạt chung của khóa cuối từ một giờ trước rồi. Hôm nay là lễ Wiccan nữa, nên ngay cả Gillian cũng đã rời khỏi thư viện từ cuối giờ chiều, sau khi nỗ lực đưa ra lời mời cuối cùng và liếc nhìn vào đống tài liệu của tôi bằng ánh mắt khó chịu.

Tôi tìm cái bục kê của phòng sách nhưng nó đã biến đi đằng nào. Bodleian vẫn có tiếng là thiếu thốn những thứ lặt vặt như thế, sẽ phải mất ít nhất mười lăm phút để tìm một cái bục kê trong thư viện và lôi được nó lên tầng trên để lấy được cuốn sách đó. Tôi đắn đo. Hôm thứ Sáu vừa rồi đúng là tôi đã cầm vào một cuốn sách phù thủy đấy, nhưng tôi cũng cưỡng lại được những cám dỗ khủng khiếp để không tiến xa hơn với mấy trò phép thuật. Với lại, ở đây lúc này có ai trông thấy tôi đâu!

Bất chấp những lý giải để hợp lý hóa vấn đề của mình, da tôi cứ gai gai cảm giác râm ran bồn chồn. Tôi không thường xuyên phá vỡ các nguyên tắc của mình, và tôi cũng đã giữ cho tinh thần vững vàng trước các tình huống thúc bách cần đến sự trợ giúp của phép thuật. Đây là lần thứ mười lăm trong năm nay, bao gồm cả câu bùa chú lên cái máy giặt gặp trục trặc và việc chạm vào Ashomle 782 lần trước. Không quá tệ cho một ngày cuối tháng Chín, nhưng về phương diện cá nhân thì cũng chẳng phải là tốt nhất.

Hít sâu, tôi đưa tay lên và tưởng tượng cuốn sách nằm ở đó.

Tập 19 của Những chú giải và thắc mắc trượt lui lại chừng mười centimet, tạo thành một góc nghiêng như thể có một bàn tay vô hình đang kéo nó xuống và rơi phịch vào lòng bản tay tôi. Khi đã yên vị trên tay tôi, nó tự lật ra đúng ngay trang sách tôi cần.

Vỏn vẹn chỉ mất có ba giây. Tôi thở mạnh, trút ra chút cảm giác tội lỗi. Đột nhiên, như thể có hai mảnh băng lạnh lẽo vỡ òa ra giữa hai xương bả vai của tôi.

Có người đang nhìn tôi, và đó không phải là một quan sát viên bình thường.

Khi một phù thủy săm soi một phù thủy khác, cái nhìn đó mang đến cảm giác râm ran, ngứa ngáy. Nhưng các phù thủy không phải là những sinh vật khác lạ duy nhất cùng chia sẻ thế giới này với loài người. Còn có cả yêu tinh – giống loài đầy tính sáng tạo và nghệ thuật, chúng ở giữa cái ranh giới mong manh của điên loạn và thiên tài. “Những ngôi sao nhạc rock và những kẻ giết người hàng loạt” – đó là cách dì tôi miêu tả về những sinh vật kì lạ và khó hiểu này. Rồi có cả loài ma cà rồng, cổ xưa và đẹp đẽ, chúng uống máu và sẽ quyến rũ bạn hoàn toàn nếu không giết bạn luôn từ trước.

Khi một yêu tinh nhìn, tôi sẽ cảm thấy như có một nụ hôn nhẹ lướt qua.

Nhưng khi một ma cà rồng nhìn chằm chằm, thì đó là cảm giác lạnh giá, tập trung và nguy hiểm.

Tôi nhẩm lướt qua một lượt các độc giả trong khu Công tước Humfrey. Có một ma cà rồng và một vị tu sĩ hiền hậu đang miệt mài trên những cuốn kinh và sách nguyện thời Trung cổ y như một kẻ si tình. Nhưng ma cà rồng thường không hay xuất hiện trong các phòng sách hiếm hoi này. Thỉnh thoảng một ma cà rồng chịu thua trước thói tự cao tự đại và hoài cổ mới tìm đến đây để hồi tưởng lại quá khứ, nhưng chuyện ấy không phải thường xuyên.

Phù thủy và yêu tinh thì không thuộc tuýp có mặt trong các thư viện. Nhưng Gilllian Chamberlain đã đến đây hôm nay, nghiên cứu mấy cuộn giấy papyrus của nàng ta bằng một cái kính lúp. Và đúng là còn có hai yêu tinh ở trong thư viện nhạc. Họ ngẩng lên nhìn, vẻ mộng mị lơ đãng khi tôi đi ngang qua trên đường tới Blackwell để dùng trà. Một trong số đó còn bảo tôi mang về cho anh ta một cốc latte, hẳn là anh ta đang ngập chìm trong cái thứ thu hút sự chú ý của anh ta lúc ấy.

Không, bây giờ kẻ đang quan sát tôi là một ma cà rồng.

Tôi đã tình cờ chạm mặt vài ma cà rồng. Tôi làm việc trong một lĩnh vực giúp tôi có sự gắn kết chặt chẽ với các nhà khoa học, mà có vô số ma cà rồng trong các phòng thí nghiệm trên khắp thế giới này. Khoa học ban thưởng cho những ai biết nghiên cứu bền bĩ và kiên nhẫn. Và tạ ơn cái thói quen làm việc đơn độc một mình của họ, những nhà khoa học ấy không thích được bất cứ ai công nhận ngoại trừ những người cộng sự thân cận nhất. Nó tạo nên một cuộc sống nối dài qua hàng thế kỉ chứ không phải vài thập kỉ và càng dễ dàng để thương lượng hơn.

Ngày nay, ma cà rồng bị thu hút về những cái máy gia tốc phân tử, những công trình nghiên cứu giải mã bản đồ gen, và sinh học phân tử. Xưa kia, đã có thời họ tập trung quanh

thuật giả kim, giải phẫu học và điện lực. Nếu có vụ phát nổ lớn hay dính dáng đến máu, hay hứa hẹn hé lộ những bí mật của vũ trụ, thì chắc chắn là sẽ có một con ma cà rồng ở đó.

Tôi giữ chặt cuốn Những chú giải và thắc mắc lấy được bằng cách không chính đáng rồi quay sang đối diện với kẻ đã chứng kiến toàn bộ sự việc. Hắn ở trong bóng tối phía bên kia căn phòng, trước mặt những cuốn sách tra cứu về cổ tự học, uể oải dựa vào một trong những cây cột trụ duyên dáng làm bằng gỗ đang chống đỡ cho gian phòng. Cuốn sách Hướng dẫn sử dụng các bản thảo viết tay bằng tiếng Anh cho tới năm 1500 đang để dở ra thăng bằng trên hai bàn tay hắn.

Tôi chưa từng thấy gã ma cà rồng này trước đây – nhưng tôi đoan chắc là hắn không cần lời khuyên bảo nào để giải mã văn phong cổ cả.

Bất cứ ai từng đọc các tác phẩm ăn khách hay thậm chí là chăm xem truyền hình đều biết rằng ma cà rồng rất hấp dẫn, nhưng không có gì có thể so sánh với việc bạn thực sự được nhìn thấy một ma cà rồng. Cấu trúc xương của họ được mài dũa quá tuyệt vời đến mức như được một nhà điêu khắc chạm trổ nên. Thế rồi họ di chuyển, hay nói chuyện, và trí óc bạn không thể tin được vào những gì đang chứng kiến. Mỗi cử động thật duyên dáng, mỗi ngôn từ đều thánh thót, du dương. Và ánh mắt họ hoàn toàn lôi cuốn, đó là cách họ bắt giữ con mồi của mình. Một ánh nhìn thật dài, vài lời thì thầm khe khẽ, một sự dụng chạm – khi bạn đã mắc vào cái bẫy của một ma cà rồng thì bạn không còn cơ hội chống cự nữa.

Chăm chú nhìn xuống gã ma cà rồng này, tôi nhận ra với một cảm giác hụt hẫng rằng kiến thức của mình ở lĩnh vực này, than ôi, toàn là lý thuyết suông. Một chút ít trong mớ lý thuyết đó dường như còn hữu ích vào lúc này đó là tôi đang đối mặt với một ma cà rồng trong thư viện Bodleian.

Ma cà rồng mà tôi quen biết sơ sơ làm công việc nghiên cứu máy gia tốc nguyên tử hạt nhân ở Thụy Sĩ. Jeremy có dáng người dong dỏng, mảnh mai và bóng bẩy, mái tóc vàng rực rỡ, đôi mắt xanh và điệu cười lôi cuốn. Anh ta ngủ với hầu hết phụ nữ trong bang Geneva và bây giờ đang làm việc ở thành phố Lausanne. Anh ta làm gì sau khi đã quyến rũ họ, tôi chẳng bao giờ muốn tìm hiểu quá sâu, và tôi đã từ chối những lời mời dai dẳng đi chơi uống nước cùng anh ta. Tôi luôn nhận thấy Jeremy là một kẻ có dòng dõi. Nhưng so với gã ma cà rồng đang đứng trước mặt tôi lúc này thì anh ta dường như gầy trơ xương, lóng ngóng, và còn rất, rất trẻ.

Ma cà rồng này dáng người cao lớn hơn – khoảng hơn một mét tám ngay cả khi tôi nhìn xuống hắn từ một khoảng cách thế này. Và dứt khoát là hắn không hề mảnh mai rồi. Đôi vai rộng hẹp dần về phía hông, tiếp nối đôi chân thuôn và săn chắc. Đôi bàn tay dài nổi bật, nhanh nhẹn, một điểm nhấn tao nhã mang tính sinh lý khiến cho đôi mắt bạn bị cuốn đi theo chúng trước khi nhận ra là đôi bàn tay ấy thuộc về một người đàn ông to lớn dường nào.

Trong khi mắt tôi quét qua hắn khắp lượt, thì ánh mắt hắn gắn chặt vào tôi. Nhìn từ phía này căn phòng, đôi mắt ấy dường như đen thăm thẳm, chăm chăm nhìn lên từ dưới cặp

lông mày rộng và đen không kém, môt bên đang nhướng lên thành một đường cong như dấu hỏi. Khuôn mặt hắn quả là ấn tượng – tất cả đường nét đều rõ rệt, đôi lưỡng quyền nhô cao kết hợp với cặp lông mày che chắn bảo vệ cho đôi mắt. Phía trên chiếc cằm là một trong vài điểm ít ỏi còn chừa chỗ cho nét dịu dàng – khuôn miệng rộng của hắn, cũng giống như đôi bàn tay dài – nhưng dường như điều đó chẳng có nghĩa lý gì.

Tuy nhiên thứ gây cảm giác bất an nhất ở hắn không phải là sự hoàn hảo của hình thể. Nó là vẻ hoang dã kết hợp với sức mạnh, sự nhanh nhạy và trí thông minh sắc bén như có thể sờ nắn được từ phía đầu kia của căn phòng. Trong chiếc quần âu màu đen và chiếc áo len màu xám nhạt, cùng với mái tóc đen bù xù xoã ngang trán và được hớt sát sau gáy, hắn trông giống một con báo có thể phóng tới bất cứ lúc nào. Nhưng hắn không vội vàng thực hiện điều đó.

Gã ma cà rồng mỉm cười. Một nụ cười lịch sự, dè dặt nên không để lộ ra những chiếc răng. Dẫu sao tôi cũng ý thức một cách mãnh liệt về chúng - được sắp thành hàng thẳng tắp sắc bén và hoàn hảo phía sau đôi môi tái nhợt của hắn.

Ý nghĩa về những chiếc răng gửi đi một đợt adrenaline đầy tính bản năng xuyên qua khắp cơ thể tôi, khiến những ngón tay tôi run rẩy. Đột nhiên tất cả điều tôi có thể nghĩ là: Ra khỏi gian phòng này NGAY LẬP TỨC.

Cái thang dường như xa hơn so với con số bốn bậc của nó. Tôi guồng chân leo xuống sàn nhà bên dưới, rồi bị vấp ở bậc cuối cùng, và chúi người thẳng vào đôi cánh tay đang đợi sẵn của ma cà rồng đó.

Vậy là hắn tóm được tôi ở cuối cầu thang.

Những ngón tay mát lạnh, và đôi cánh tay cho cảm giác giống như thép chứ không phải là thịt và xương. Mùi cây đinh hương, quế và thứ gì đó gợi tôi nhớ tới mùi trầm hương đốt lúc hành lễ ngập tràn trong không khí. Hắn đặt tôi đứng vững lại, nhặt cuốn Những chú giải và thắc mắc từ dưới sàn lên, và đưa nó cho tôi kèm theo một cái gật đầu khẽ khàng. “Tiến sĩ Bishop, đúng không ạ?”

Run bần bật từ đầu tới chân, tôi gật đầu.

Những ngón tay dài và nhợt nhạt của bàn tay phải hắn thọc vào túi áo và lôi ra một tấm danh thiếp màu xanh trắng. Hắn chìa nó ra. “Matthew Clairmont.”

Tôi cầm vào rìa tấm danh thiếp, thận trọng không chạm vào ngón tay hắn. Logo quen thuộc của đại học Oxford, ba cái vương miện và một cuốn sách để mở, ở ngay bên trên cái tên của Clairmont, tiếp theo đó là một chuỗi những thông tin ban đầu cho thấy hắn là một thành viên của câu lạc bộ Tầng lớp Hoàng tộc.

Không tệ đối với những người có vẻ ngoài gần tứ tuần, mặc dù tôi hình dung rằng tuổi thực của hắn ít nhất cũng gấp mười lần như thế.


Và vì chuyên môn nghiên cứu của hắn, thật chẳng có gì ngạc nhiên khi ma cà rồng này là giáo sư khóa Hóa sinh và có quan hệ với khoa Thần kinh học của Oxford tại bệnh viện John Radcliffe. Máu và giải phẫu học – hai thứ mà ma cà rồng yêu thích. Tấm danh thiếp còn có số điện thoại của ba phòng thí nghiệm khác bổ sung cho số điện thoại văn phòng và địa chỉ e- mail. Có thể tôi đã không trông thấy hắn trước đây, nhưng hắn hiển nhiên thuộc tầng lớp tôi không với tới được.

“Giáo sư Clairmont.” Tôi lạc cả giọng khi ngôn từ bị ứ lại trong họng, và tôi cố nín lặng trước thôi thúc mạnh mẽ muốn vừa gào thét vừa chạy ra lối cửa.

“Chúng ta chưa gặp nhau,” hắn tiếp tục bằng một chất giọng nhấn trọng âm kì quặc. Nó gần như là của vùng Oxbridge nhưng có một âm sắc êm ái mà tôi không thể đoán định được. Đôi mắt hắn không hề rời khỏi gương mặt tôi, và tôi phát hiện ra một thực tế là chúng không hoàn toàn tối sẫm: đôi đồng tử giãn to được viền quanh bằng đôi tròng mắt có màu bạc xanh xám. Sự lôi cuốn của chúng thật mãnh liệt và tôi nhận ra là mình không thể nào rời mắt đi.

Khuôn miệng của ma cà rồng này lại cử động. “Tôi là một người rất ngưỡng mộ các tác phẩm của cô.”

Mắt tôi mở lớn. Không thể nào có một Giáo sư khoa Hóa sinh lại thích thú với thuật giả kim của thế kỉ mười bảy, nhưng cũng không chắc. Tôi nâng cổ áo sơ mi trắng của mình lên và quét mắt khắp căn phòng. Chúng tôi là hai người duy nhất ở đây. Không có ai ở chỗ chiếc bàn sồi cũ kĩ hay ở gần dãy bàn máy vi tính cả. Bất cứ ai có mặt ở bàn quyên góp sách đều quá xa để có thể đến giúp đỡ tôi.

“Tôi nhận thấy bài báo cáo của cô về những sắc thái tượng trưng của sự chuyển hóa trong thuật giả kim thật lôi cuốn, và công trình của cô về cách tiếp cận của Robert Boyle với các vấn đề về sự co giãn là khá thuyết phục,” Clairmont tiếp tục một cách trôi chảy, như thể hắn đã quen với việc là người tham gia tích cực duy nhất trong một cuộc đàm luận. “Tôi vẫn chưa đọc xong cuốn sách mới nhất của cô về việc đào tạo và học nghề của thuật giả kim, nhưng tôi đang thưởng thức nó – một tác phẩm lớn đấy.”

“Cảm ơn,” tôi thì thầm đáp. Ánh nhìn chòng chọc của hắn rời khỏi mắt tôi rồi lướt xuống cổ họng tôi.

Tôi không chạm vào mấy cái nút áo quanh cổ nữa.

Đôi mắt kì dị của hắn lướt trở lại mắt tôi. “Cô có cách khơi gợi lại quá khứ cho các độc giả thật tuyệt diệu.” Tôi coi đó như một lời khen ngợi, vì một ma cà rồng sẽ biết điều đó đúng hay sai. Clairmont ngừng lại giây lát. “Tôi có thể mời cô bữa tối được không?”

Miệng tôi há hốc. Bữa tối ư? Tôi không thể thoát khỏi hắn trong cái thư viện này, nhưng chẳng có lý do gì để nấn ná qua một bữa ăn cả - đặc biệt là một bữa ăn mà hắn sẽ chẳng thể chia sẻ và tận hưởng theo các sở thích ăn uống riêng của mình.

“Tôi đã có kế hoạch mất rồi,” tôi cao giọng đáp mà không thể nghĩ ra được một lý do khả dĩ cho cái kế hoạch mình vừa nói. Matthew Clairmont hẳn phải biết tôi là một phù thủy, và rõ ràng là tôi không mừng lễ Mabon vào lúc này.

“Chán quá,” hắn lẩm bẩm, một nụ cười lướt qua môi. “Có lẽ để một dịp khác chăng. Năm nay cô vẫn còn ở Oxford phải không?”

Xung quanh một ma cà rồng luôn có cái cảm giác bất an, bấn loạn, và mùi đinh hương của Clairmont gợi nhắc tới hương vị kì lạ của Ashmole 782. Chẳng kịp nghĩ ngợi rõ ràng, tôi đành gật đầu. Thế sẽ an toàn hơn.

“Tôi cũng đã nghĩ vậy,” Clairmont nói. “Tôi chắc là chúng ta sẽ lại có cơ hội gặp nhau lần nữa. Oxford là một thị trấn nhỏ mà.”

“Rất nhỏ,” tôi đồng tình, thầm ước gì mình đã đến London thay vì ở đây.

“Vậy thì cho đến dịp đó, Tiến sĩ Bishop, rất hân hạnh được gặp lại cô.” Clairmont chìa tay ra. Ngoại trừ cuộc du ngoạn ngắn ngủi tới chỗ cổ áo của tôi, còn thì đôi mắt hắn tuyệt nhiên không rời khỏi mắt tôi một lần nào. Tôi không nghĩ là hắn có chớp mắt lần nào cả. Tôi chỉ biết cứng đơ người và không thể rời mắt đi được.

Bàn tay tôi đưa ra phía trước, do dự giây lát trước khi bắt tay hắn. Có một áp lực thoáng lướt qua trước khi hắn rụt tay lại. Hắn bước giật lùi, mìm cười và biến mất vào trong bóng tối của khu vực cổ xưa nhất thư viện.

Tôi vẫn còn đứng đó cho tới khi hai bàn tay lạnh giá có thể cử động trở lại, sau đó tôi quay lại bàn đọc của mình và tắt máy tính. Trong khi thu gom các giấy tờ, cuốn Những chú giải và thắc mắc hỏi tôi vẻ cáo buộc rằng tại sao tôi lại đến quấy rầy nó khi tôi thậm chí còn không nhìn tới nó. Danh sách các việc làm của tôi cũng đầy lời chỉ trích. Tôi xé toạc phần trên của tập giấy, vò nhàu và ném nó vào cái giỏ liễu gai ở dưới gầm bàn.

“Thế là đủ cho ngày quái quỷ này rồi,” tôi khẽ lẩm bẩm.

Viên quản lý phòng đọc buổi tối liếc xuống đồng hồ đeo tay khi tôi trả lại những tập cổ thư. “Về sớm thế, tiến sĩ Bishop?”

Tôi gật đầu, môi tôi mím chặt cố nén không hỏi ông ta rằng liệu ông ta có biết một con ma cà rồng đã có mặt trong khu vực sách tham khảo môn cổ tự học hay không.

Ông ta nhặt chồng hộp các tông màu xám lên và cầm lấy những cuốn sách. “Ngày mai cô có cần chúng không?”


“Có,” tôi thì thào. “Ngày mai.”

Sau khi quan sát lần cuối lối ra, tôi đã được tự do. Tiếng bước chân của tôi gõ lên tấm vải sơn lót sàn vang dội khắp các bức tường đá khi tôi tăng tốc đi xuyên qua cánh cổng mắt cáo của phòng đọc sách, ngang qua chỗ những cuốn sách được che chắn bằng dây chão mềm như nhung để ngăn chúng khỏi những ngón tay tò mò, rồi đi xuống cầu thang bằng gỗ đã mòn, và vào khu vực sân trong ở tầng trệt. Tôi tựa người vào mấy thanh sắt bao quanh khu tượng đài bằng đồng của William Herbert, hít đầy bầu không khí lạnh giá vào hai lá phổi, và đánh vật để đẩy lùi dấu tích của mùi đinh hương và quế ra khỏi lỗ mũi mình.

Luôn có những thứ bất ngờ xảy đến vào buổi đêm ở Oxford, tôi tự nhủ một các cứng rắn. Vậy là có thêm một ma cà rồng nữa trong thị trấn này.

Cho dù tôi đã nhủ lòng ra sao lúc ở trong sân thư viện, chuyến đi bộ về nhà của tôi cũng nhanh hơn thường lệ. Vẻ u ám của hẻm New College như một lời tuyên bố ma quái vào đúng thời điểm này. Tôi quét tấm thẻ của mình vào máy đọc thẻ ở cổng sau của New College và cảm thấy vơi đi chút căng thẳng khi cánh cổng kêu lách cách sập lại phía sau lưng, như thể mỗi cánh cửa và mỗi bức tường ngăn giữa tôi với cái thư viện kia có thể giữ an toàn cho tôi thêm một chút vậy. Tôi đi men theo bờ tường bên dưới những cánh cửa sổ của nhà thờ rồi xuyên qua lối đi bộ hẹp dẫn vào sân trong. Nơi đó trông ra khu vườn thời Trung cổ duy nhất còn sót lại của Oxford, khu vườn được hoàn thiện thêm nhờ một ngọn đồi thấp kiểu truyền thống, tạo thành một khung cảnh tươi xanh dành cho sinh viên tới thưởng ngoạn sự kì diệu của tạo hóa và Chúa Trời. Tối nay, những ngọn tháp hình chóp và những ô cửa tò vò của ngôi trường dường như mang đậm nét Gothic, và tôi hăm hở đi vào trong.

Khi cánh cửa khép lại sau lưng, tôi thở phào nhẹ nhõm. Tôi hiện sống trên tầng cao nhất của tòa nhà dành cho khoa Lịch sử, trong khu phòng trọ dành riêng cho các cựu thành viên về thăm trường. Các gian trong căn hộ của tôi, gồm một phòng ngủ, một phòng khách với chiếc bàn tròn để ăn tối và một căn bếp nhỏ khá tươm tất, được bài trí bằng những tấm ảnh cổ in từ phim âm bản và ván ốp tường. Tất cả đồ gia dụng trông như được chọn lọc từ các đồ vật trước đây ở phòng sinh hoạt chung của năm cuối và của chủ nhà, với phong cách thiết kế nổi bật cuối thế kỉ mười chín.

Tôi đặt hai miếng bánh mì vào lò nướng và rót cho mình một cốc nước lạnh. Tu hết một hơi cốc nước, tôi mở cửa sổ để không khí mát ùa vào mấy căn phòng ngột ngạt.

Mang theo một gói snack trở lại phòng khách, tôi đá văng đôi giày và bật dàn stereo nhỏ lên. Những nốt nhạc trong trẻo của Mozart tràn ngập không gian. Khi ngồi trên chiếc sofa màu hạt dẻ, tôi dự định nghỉ ngơi một lát, rồi đi tắm và lướt qua những ghi chú trong ngày.

Ba giờ rưỡi sáng, tôi tỉnh giấc, tim đập dồn, cổ cứng ngắc, và vị đinh hương rõ rệt còn đọng lại trong miệng tôi.

Tôi uống một ly nước mát rồi đóng cửa sổ phòng bếp lại. Thật lạnh lẽo, tôi rùng mình khi bầu không khí ẩm ướt chạm vào người.

Sau khi liếc qua đồng hồ và nhẩm tính nhanh, tôi quyết định gọi về nhà. Ở đó mới là mười rưỡi, dì Sarah và cô Em thích hoạt động về đêm giống như loài dơi vậy. Lững thững đi quanh các phòng, tôi tắt tất cả các đèn, chỉ để lại ngọn đèn trong phòng ngủ và nhấc máy di động lên. Tôi trút bỏ bộ quần áo lấm bụi – làm sao mà trong thư viện bạn lại có thể bị bắt bụi đến thế nhỉ - rồi mặc vào người chiếc quần bó cũ tập yoga và một cái áo len màu đen cổ trễ. Bộ đồ đó thoải mái hơn rất nhiều so với bất cứ bộ đồ ngủ nào.

Chiếc giường đang chào mời và thật êm ái vững chải dưới lưng tôi, nó làm tôi thấy dễ chịu tới mức hầu như đã thuyết phục được bản thân rằng chỉ nên gọi về nhà khi thật cần thiết. Nhưng nước vẫn chưa thể tẩy bỏ được hết hương vị đinh hương trong miệng, và tôi quay số.

“Chúng ta đang đợi cuộc gọi của con đây,” đó là những lời đầu tiên tôi nghe thấy. Đúng là phù thủy.
Tôi thở dài. “Dì Sarah, con khỏe mà.”

“Tất cả các dấu hiệu đều cho thấy điều ngược lại.” Như thường lệ, em gái của mẹ tôi lại không chịu lùi bước. “Tabitha đã lồng lộn lên suốt cả buổi tối, Em thì có một bức tranh vô cùng rõ nét về việc con bị lạc trong rừng ban đêm, và dì thì không thể ăn được thứ gì suốt từ sáng tới giờ!”

Rắc rối thực sự chính là con mèo chết tiệt đó. Tabitha là bé cưng của dì Sarah, và nó bắt sóng được bất cứ tình trạng căng thẳng nào của các thành viên trong gia đình với độ chính xác phi thường. “Con khỏe mà. Con chỉ có một cuộc chạm trán không mong đợi ở thư viện tối nay thôi, tất cả chỉ có thế.”

Một tiếng “cạnh” cho tôi biết là cô Em đã nhấc máy điện thoại phụ lên. “Tại sao con không tham dự lễ Mabon?” cô hỏi.

Emily Mather đã hiện diện cố định trong cuộc đời tôi từ bao lâu tôi cũng không nhớ nữa. Cô và mẹ Rebecca của tôi đã gặp nhau từ hồi là những học sinh trung học làm việc ở khu bảo tàng Plimoth Plantation vào mùa hè, ở đó họ đào những cái hố và đẩy cái xe cút kít cho các nhà khảo cổ. Họ trở thành đôi bạn thân, rồi cứ thư từ tâm tình qua lại suốt khi Emily tới Vassar còn mẹ tôi vào Havard. Sau đó hai người nối lại liên lạc lạc ở Cambridge khi Em trở thành thủ thư ở một thư viện cho trẻ em. Sau cái chết của bố mẹ tôi, những kì nghỉ cuối tuần dày đặc của Em ở Mandison nhanh chóng đưa cô đến công việc mới ở trường cấp hai địa phương. Cô và dì Sarah trở thành những đối tác không thể chia rẽ được, mặc dù Em vẫn duy trì căn hộ riêng của cô trong thị trấn và cả hai đã lập một giao kèo đặc biệt là không bao giờ để bị bắt gặp đang đi vào buồng ngủ cùng nhau trong khi tôi đang tuổi lớn. Chuyện này không lừa được tôi, hàng xóm, hay bất kỳ ai khác sống trong thị trấn này. Mọi người đối xử

với họ giống như họ là một cặp, không quan tâm xem họ ngủ ở đâu. Khi tôi chuyển ra khỏi nhà Bishop, Em chuyển vào và ở đó từ hồi ấy. Giống như mẹ tôi và dì, Em có xuất thân từ một dòng họ phù thủy lâu đời.
“Con được mời tới bữa tiệc của hội phù thủy, nhưng con đã làm việc chứ không đi dự.” “Phù thủy ở Bryn Marw mời con à?” Em có hứng thú với giới cổ điển học, chủ yếu là vì
cô từng hẹn họ với mẹ của Gillian (hóa ra là một cuộc tình do rượu vang trong một đêm hè).
“Đó là hồi những năm 1960,” Em chỉ nói thế.

“Vâng.” Tôi nói tỏ vẻ không thích. Cả hai người bọn họ đều tin rằng tôi sẽ ngộ ra chân lý và bắt đầu nắm bắt phép thuật một cách nghiêm túc, rằng tôi chắc chắn sẽ được bổ nhiệm. Không gì phủ bóng nghi ngờ lên cái điềm báo đầy mơ ước này của họ, và họ luôn run lên sung sướng khi thấy tôi có bất cứ mối liên hệ nào với bất cứ phù thủy nào. “Nhưng thay vào đó, con đã dành cả buổi tối ở bên Elias Ashmole”

“Anh ta là ai thế?” Em thì thào hỏi dì Sarah.

“Mình biết. Cái gã đó hồi còn sống từng sưu tập những cuốn sách về giả kim thuật đấy,” tiếng dì Sarah có vẻ bị bịt nhỏ lại.

“Cả hai vẫn còn đó chứ?” tôi gọi to vào máy điện thoại. “Vậy ai là người làm con hoảng sợ?” dì Sarah hỏi.
Cả hai đều là phù thủy nên chẳng có cách nào che giấu được bất cứ điều gì. “Con gặp một ma cà rồng ở trong thư viện. Con chưa gặp anh ta trước đó lần nào cả, tên là Matthew Clairmont.”

Đầu dây của cô Em im lặng khi cô lật giở qua những file danh thiếp được lưu giữ trong đầu về các sinh vật lẫy lừng. Dì Sarah cũng im lặng trong giây lát, đang cân nhắc có nên làm to chuyện hay không.

“Ta mong là hắn dễ dứt hơn lũ yêu tinh con có thói quen thu hút về,” dì đột ngột nói. “Lũ yêu tinh đã không còn làm phiền con kể từ khi con thôi đóng kịch.”
“Chẳng phải còn có tên yêu tinh đã theo con vào thư viện Beinecke hồi con mới làm việc ở Yale còn gì,” cô Em chỉnh tôi. “Hắn cứ tha thẩn dưới đường và mò tới tận chỗ con đấy thôi!”

“Tinh thần hắn không ổn định mà.” Tôi chống chế. Như khi dùng phép phù thủy với cái máy giặt, không hiểu thế nào mà tôi đã thu hút sự chú ý của một yêu tinh độc thân, hiếu kì – đáng lẽ nên đánh giá việc đó là một lợi thế dành cho tôi mới phải chứ!

“Con thu hút những sinh vật đó như hoa thu hút ong vậy, Diana ạ. Nhưng yêu tinh không nguy hiểm bằng một nửa ma cà rồng đâu. Hãy tránh xa hắn ta ra,” dì Sarah nghiêm khắc nói.

“Con chẳng có lý do gì để tìm đến anh ta cả.” Tay tôi lại đưa lên cổ lần nữa. “Chúng con chẳng liên quan gì cả.”

“Vấn đề không phải ở chỗ đó,” dì Sarah sẵng giọng. “Phù thủy, ma cà rồng, yêu tinh không thể giao du lẫn lộn được. Con biết điều đó mà. Con người có khả năng nhận ra chúng ta nhiều hơn khi chúng ta làm thế. Không có yêu tinh hay ma cà rồng nào đáng để ta mạo hiểm như vậy.” Sinh vật duy nhất trên thế giới này khiến dì Sarah thật sự coi trọng là thù thủy. Con người gây cho dì ấn tượng là những sinh vật nhỏ bé bất hạnh đui mù trước thế giới xung quanh. Ma cà rồng thì ở vị trí thấp hơn cả loài mèo và ít nhất còn kém loải người ngu si một bậc trong nấc thang tiến hóa của riêng dì.

“Con đã nghe dì nói về các luật lệ này rồi, dì Sarah.”

“Không phải ai cũng tuân theo các nguyên tắc đó cưng à,” Em nhận xét. “Anh ta muốn
gì?”

“Anh ta nói là anh ta rất thích các công trình của con. Nhưng anh ta là một nhà khoa học, nên điều đó khó mà tin được.” Các ngón tay tôi vơ vẩn nghịch tấm chăn lông vịt trên giường. “Anh ta mời con ăn tối.”

“Ăn tối á?” dì Sarah kêu lên sửng sốt.

Cô Em chỉ phá lên cười. “Trong thực đơn nhà hàng không có mấy món hấp dẫn được ma cà rồng đâu.”

“Con chắc chắn sẽ không gặp lại anh ta nữa đâu. Con thấy trên danh thiếp anh ta đang điều hành ba phòng thí nghiệm, và anh ta nắm giữ hai vị trí trong khoa.”

“Khá đấy,” dì Sarah lầm bầm. “Thế con có nhiều thời gian như thế để làm gì? Và hãy thôi giật tấm chăn đi – con sẽ làm nó bị thủng đấy.” Dì đã bật cái radar phù thủy của mình lên ở mức tối đa và bây giờ dì đang quan sát đồng thời nghe tôi nói.

“Có vẻ không phải anh ta đang lấy trộm tiền từ một quý bà già khom và phung phí tài sản của người khác trên sàn chứng khoán đâu,” tôi chống chế thêm. Những ma cà rồng được cho là giàu có một cách thái quá luôn làm dì Sarah khó chịu. “Anh ta là một nhà hóa sinh học và là một bác sĩ trong vài lĩnh vực liên quan tới bộ não.”

“Dì chắc chắn là điều đó thật lôi cuốn, Diana ạ, nhưng anh ta muốn gì chứ?” dì Sarah kết hợp tính cáu bẳn của tôi với sự thiếu kiên nhẫn – đặc tính có một không hai của tất cả phụ nữ nhà Bishop.

“Không phải bữa tối!” cô Em nói với vẻ chắc chắn.

Dì Sarah khịt mũi tỏ vẻ sốt ruột. “Hắn ta muốn một thứ gì đó. Ma cà rồng và phù thủy không hẹn hò. Trừ phi hắn ta đang có kế hoạch dùng bữa tối chính con, tất nhiên là thế. Không có gì khiến chúng thích hơn là được nếm mùi vị máu phù thủy.”

“Có thể anh ta chỉ tò mò thôi. Hay anh ta quả có thích tác phẩm của con thật?!” cô Em nói câu đó cứ nghĩ là tôi phải phá lên cười.

“Chúng ta sẽ không phải trò chuyện thế này nếu con có đôi chút đề phòng sơ đẳng nhất,” dì Sarah chua chát nói. “Một câu bùa chú phòng vệ, sử dụng các năng lực của con như thuật tiên tri chẳng hạn, và...”

“Con sẽ không dùng phép thuật hay thuật phù thủy để tìm hiểu vì sao một ma cà rồng mời con ăn tối đâu,” tôi kiên quyết nói. “Không thể thương lượng được đâu, dì Sarah.”

“Thế thì đừng có gọi cho chúng ta để tìm câu trả lời khi mà con không muốn nghe,” dì Sarah nói, cái tính khí nóng nảy có tiếng của dì đang bừng bừng lên. Dì gác máy trước khi tôi có thể nghĩ ra câu đáp lại.

“Sarah thật sự lo lắng cho cháu, cháu biết mà,” Em nói tỏ vẻ xin lỗi. “Và cô ấy không hiểu tại sao cháu lại không sử dụng món quà trời ban này, ngay cả khi để bảo vệ chính bản thân mình.”

Bởi vì món quà đó kèm theo nỗi đau khổ, tôi đã giải thích hàng trăm lần như thế. Tôi đành cố gắng lần nữa.

“Nó là con dao hai lưỡi, cô Em ạ. Con đã tự bảo vệ mình khỏi một ma cà rồng trong thư viện hôm nay, và ngày mai con sẽ bảo vệ mình trước những câu hỏi hóc búa trong buổi diễn thuyết. Nhanh thôi, con sẽ chọn đề tài nghiên cứu dựa trên hiểu biết về cách loài người chọn lựa và công nhận, con chắc chắn mình sẽ chiến thắng. Việc tự mình tạo dựng danh tiếng rất quan trọng đối với con. Nếu con dùng đến phép thuật, thì chẳng có gì thực sự là của con cả. Con không muốn là phù thủy Bishop kế tiếp đâu.” Tôi toan kể với Em về Ashmole 782, nhưng đã có điều gì đó khiến tôi ngậm miệng lần nữa.

“Ta biết, ta biết, bé cưng ạ.” Giọng cô Em thật dịu dàng. “Ta hiểu chứ. Nhưng Sarah không thể dừng được việc lo lắng cho sự an toàn của con. Bây giờ con chính là toàn bộ gia đình của cô ấy đấy.”

Những ngón tay tôi luồn qua tóc và dừng lại nơi thái dương. Những cuộc nói chuyện kiểu này lại quay về bố và mẹ tôi. Tôi đắn đo miễn cưỡng đề cập tới một vấn đề tôi quan tâm nhất.

“Sao thế con?” cô Em hỏi, giác quan thứ sáu của cô đã nắm bắt được nỗi lo lắng của tôi.

“Anh ta biết tên con. Con chưa bao giờ gặp anh ta trước đây, nhưng anh ta biết con là
ai.”

Cô Em cân nhắc các khả năng. “Tấm hình của con in trên bìa sau cuốn sách, đúng không?”

Hơi thở của tôi đang vô thức giữ trong lòng ngực, đã bật ra một cách nhẹ nhõm. “Đúng rồi. Chắc hẳn là thế. Con đúng là ngớ ngẩn thật. Cô có thể hôn dì Sarah hộ con không ạ?”

“Được chứ. Và Diana à! Hãy cẩn thận. Ma cà rồng Anh có lẽ không cư xử lịch thiệp với phù thủy như ma cà rồng Mỹ đâu.”

Tôi mỉm cười nghĩ tới cái cúi đầu trang trọng của Matthew Clairmont. “Con sẽ cẩn thận ạ. Nhưng đừng lo, chắc con sẽ không gặp lại anh ta đâu.”

Em im lặng.

“Cô Em?” tôi nhắc. “Thời gian sẽ trả lời.”

Em không giỏi tiên tri như mẹ tôi, nhưng có điều gì đó thật khó dò ở cô. Thuyết phục phù thủy chia sẻ một điềm báo mơ hồ là điều gần như không thể. Cô ấy sẽ không nói cho tôi biết điều cô ấy lo lắng về Matthew Clairmont. Vẫn chưa.



Chapter 3

Gã ma cà rồng náu mình dưới bóng cây cầu cong cong bắc ngang hẻm New College nối liền hai khu nhà của trường Hertford, tựa lưng vào phiến đá mòn nhẵn của tòa nhà mới xây dựng, hai bàn tay đặt trên mái cầu.

Nàng phù thủy xuất hiện, di chuyển nhanh đến ngạc nhiên ngang qua lối đi bộ lát đá gồ ghề bên ngoài Bodleian. Cô đi ngang qua ngay bên dưới chỗ hắn ngồi, guồng chân mỗi lúc một nhanh hơn. Vẻ bồn chồn khiến cô trông trẻ hơn tuổi và càng làm nổi bật thêm sự yếu đuối nơi cô.

Vậy đó là sử gia “chính hiệu” đấy, hắn mỉa mai nghĩ, tâm trí điểm lướt qua tiểu sử đời cô. Thậm chí ngay cả khi đã nhìn thấy tấm hình của cô rồi, Matthew vẫn đinh ninh Diana phải già hơn cơ, căn cứ vào những thành công trong chuyên ngành mà cô đạt được.

Lưng Diana Bishop thật thẳng, hai bờ vai ngay ngắn bất chấp diện mạo hoang mang bối rối lúc này. Có lẽ cô không dễ hăm dọa như hắn tưởng. Thái độ của cô trong thư viện đã cho thấy khá nhiều điều. Cô đã đón nhận ánh mắt hắn mà không có lấy một dấu hiệu sợ hãi nào, nỗi sợ mà Matthew đã quen nhận được từ những kẻ không phải là ma cà rồng, cũng như nhiều kẻ là ma cà rồng khác.

Khi Diana ngoặt ở góc quanh, Matthew trườn người dọc theo đường trên mái cho tới khi đến bức tường của New College. Hắn lặng lẽ trượt xuống mép tường. Gã ma cà rồng này biết rõ cách bố trí của ngôi trường và đã đoán trước được nơi cô sẽ đến. Hắn vừa kịp chui vào một ô cửa sổ đối diện với cầu thang dẫn lên phòng Diana thì cô bắt đầu trèo lên.

Ánh mắt Matthew bám riết lấy Diana khi cô đi vòng quanh căn hộ của mình từ phòng này sang phòng khác, bật tất cả đèn lên. Cô mở cửa sổ bếp, để ngỏ đó rồi bỏ đi.

Thế càng đỡ cho mình khỏi phải đập vỡ kính cửa sổ hoặc phá khóa, hắn nghĩ.

Matthew phóng người qua khoảng không giữa hai khu và bám vào tòa nhà Diana ở, bàn chân và hai tay hắn tìm được chỗ bám chắc chắn trong lớp vữa trát tường cũ kỹ, được trợ giúp thêm bởi một máng thoát nước bằng đồng và vài cây leo thân chắc khỏe. Từ cao điểm quan sát mới đầy ưu thế này, hắn có thể bắt được mùi hương đặc biệt của cô phù thủy và tiếng sột soạt lật giở các trang sách. Hắn rướn cổ nhòm vào cửa sổ.


Bishop đang đọc sách. Trong vẻ thư thái, khuôn mặt cô trông khác hẳn, hắn thầm nghĩ. Trông như thể làn da của cô vừa in với phần xương nằm ngay bên dưới nó. Mái đầu cô khẽ đung dưa chầm chậm và rồi cô trượt người ngả sâu vào đống nệm ghế cùng với một tiếng thở dài mệt lả. Chẳng mấy chốc tiếng thở đều đặn báo cho Matthew biết cô đã ngủ rồi.

Hắn đu người từ tường, đá chân lên và vào qua cửa sổ bếp. Đã rất lâu rồi kể từ lần cuối cùng gã ma cà rồng này trèo vào phòng của một phụ nữ. Mặc dù những dịp như thế là rất hiếm và thường là có dính líu đến những thời điểm hắn đang chìm đắm trong một cơn đê mê cuồng dại nào đó. Lần này là một lý do hoàn toàn khác. Dù sao đi nữa, nếu có ai bắt gặp thì có trời mới biết hắn phải giải thích như thế nào.

Matthew phải biết liệu Ashmole 782 có còn nằm trong tay Bishop hay không. Hắn đã không thể tới gần bàn của cô trong thư viện, nhưng chỉ nhìn lướt qua là hắn biết nó không nằm trong đống bản thảo cô mượn hôm nay. Mặc dù vậy, không bao giờ có chuyện một phù thủy – một người nhà Bishop – lại để cuốn cổ thư ấy lọt khỏi tay mình. Chân bước êm ru, hắn đi vòng qua các căn phòng bé nhỏ. Cuốn cổ thư không có trong phòng tắm hay trong phòng ngủ của nàng phù thủy. Hắn rón rén đi qua chiếc tràng kỉ nơi cô đang nằm.

Mí mắt nàng phù thủy hấp háy như thể cô đang xem một bộ phim mà chỉ có mình cô nhìn thấy được trong mơ. Một bàn tay cô co lại thành nắm đấm, và mỗi lúc hai chân cô lại xoay chuyển co duỗi. Dù vậy, nét mặt Bishop thật thanh thản, và không hề bị xáo trộn bởi bất cứ điều gì đang diễn ra trên phần còn lại của cơ thể.

Có điều gì đó không ổn. Hắn đã linh cảm thấy nó ngay từ khoảnh khắc đầu tiên trông thấy Diana trong thư viện. Matthew khoanh tay và ngắm nhìn cô, nhưng hắn vẫn không thể đoán ra được đó là gì. Cô phù thủy này không có những mùi hương thường thấy như kỳ nham, lưu huỳnh và ngải đắng. Cô nàng đang che dấu một điều gì đó, gã ma cà rồng nghĩ thầm, điều gì đó còn hơn cả cuốn cổ thư bị mất kia.

Matthew quay người đi, lục tìm trên chiếc bàn dài mà cô đang dùng như là bàn làm việc. Thật dễ dàng nhận ra vì nó bị bày bừa toàn sách và giấy tờ bên trên. Đó là chỗ khả dĩ nhất cho cô nàng để cuốn cổ thư “lậu” kia. Khi hắn bắt đầu bước về chiếc bàn, thì bỗng ngửi thấy mùi điện quang và cảm giác ớn lạnh.

Ánh sáng đó phát ra từ người Diana Bishop – xung quanh hình hài người con gái đó, ánh sáng như đa

Posted on July 01, 2019 09:08:02 AM


10
60
Donate free




Đăng nhập để tham gia thảo luận! Hoặc bạn có thể bình luận bằng facebook ở dưới.