Truyện
[HotaBook - #ST - Giới thiệu + Chapter 1] Mật Mã Phù Thủy

Được viết bởi: ちひろ :3


Thích phim quá đâm ra đọc truyện =))) Đăng lên để tiện đọc luôn =)))



A Discovery Of Witches - Mật Mã Phù Thủy





Giới thiệu

Một buổi chiều muộn tháng 9, Diana Bishop, nữ sử gia đồng thời là một học giả hóa học trẻ tuổi và tài năng đang miệt mài nghiên cứu giữa đống cổ thư trong thư viện Bodleian, trường Oxford. Diana vô tình cầm một bản thảo cổ xưa về thuật giả kim, cuốn sách Ashmole 782, lên xem. Ngay lập tức, cô nhận ra nó có một sức mạnh bí ẩn vô cùng lôi cuốn và huyền bí. Thực tế, Diana còn là hậu duệ của một dòng dõi phù thủy lâu đời và xuất chúng, song cô không muốn thừa nhận và sử dụng năng lực siêu nhiên của mình – và bao nhiêu năm qua, cô đã cố gắng sống như bao cô gái bình thường khác. Chính vì thế, sau một thoáng lướt qua cuốn Ashmole 782, Diana đã trả nó lại cho thư viện và lờ đi những linh tính phù thủy của mình

Tuy nhiên, Diana không phải nhân vật duy nhất nhận ra sự trở lại của cuốn sách huyền bí, và những khám phá của cô sau đó ngay lập tức đã khuấy đảo cả thế giới ngầm. Ashmole 782 là một kho báu vô giá đã thất lạc hàng thế kỷ và Diana là sinh vật đầu tiên cũng như duy nhất biết được thần chú mở ấn. Ngay lập tức, cô nhận ra mình cùng lúc bị ba loài sinh vật thần bí trên trái đất bao vây – yêu tinh, phù thủy, và ma cà rồng – những kẻ đang ùn ùn kéo về Oxford hòng tìm kiếm cuốn cổ thư. Trong số đó, cô cảm nhận được mối liên hệ mạnh mẽ với Mathew Clairmont, một nhà di truyền học điển trai, mạnh mẽ và cũng là một ma cà rồng. Mathew là nhân vật có những thành tựu học thuật xuất chúng sau hàng trăm năm miệt mài nghiên cứu. Hai nhân vật thuộc về hai giống loài vốn cố mối thâm thù, nhưng sau những bữa tối bên ánh nến lung linh, những lớp học yoga với các bài tập siêu nhiên thần bí, và sau chuyến đi về ngôi nhà cổ kính của Matthew (mà thực ra là một lâu đài) ở miền Nam nước Pháp, họ đã dần xích lại gần nhau…

Khi những thử thách hai người phải đối đầu ngày một nghiêm trọng, năng lực của Diana cũng ngày càng mạnh lên, cô cùng với Matthew đã phải sát cánh bên nhau để chiến đấu chống lại những thế lực đang thèm khát giải mã cuốn cổ thư với những trang sách hứa hẹn sẽ hé mở những bí mật động trời trong quá khứ cũng như tiết lộ những tiên đoán về tương lai đầy bí ẩn.

>><<

Mật mã phù thủy là cuốn tiểu thuyết đầu tay của Deborah và là cuốn đầu tiên trong bộ ba All Souls. Đây là một trong các cuốn sách được bàn tán và chờ đợi nhiều nhất tại Hội chợ sách Frankfurt 2009, bản quyền đã được bán cho 32 quốc gia ngay từ khi sách chưa được xuất bản. Một thiên tiểu thuyết vô cùng mê hoặc, Mật mã phù thủy là sự cân bằng hài hòa giữa lịch sử và phép màu huyền bí, giữa lãng mạn và ly kỳ…

Mật mã phù thủy được bình chọn là một trong những cuốn sách hay nhất của tháng 2 năm 2011 trên trang Amazon

11 / 2 / 2011, số bản in của cuốn sách đã lên tới 210.000 bản, và còn 100.000 bản đã được đặt hàng. Cuốn sách xếp thứ 6 trong danh mục best seller của tờ Sunday Times ở Ạnh.

18 / 2 / 2011, cuốn sách vươn lên xếp thứ 2 trong danh mục bestseller của NewYork Times.



Chương 1

Cuốn cổ thư dày cộp bọc trong lớp bìa da đó chẳng có gì đặc biệt cả. Đối với một sử gia thì trông nó cũng như trăm cuốn cổ thư khác tại thư viện Bodleian của trường Oxford. Cổ xưa và nhàu nát. Nhưng ngay từ lúc tìm được nó, tôi đã biết nó có điều gì đó khác thường.

Phòng đọc sách công tước Humfrey thật trống trải vào buổi chiều cuối tháng Chín như hôm nay, và các yêu cầu về thư liệu giờ đây đều nhanh chóng được đáp ứng, khi mà đợt viếng thăm ồ ạt của các học giả trong dịp hè đã kết thúc và sự điên cuồng của học kì mùa thu chưa bắt đầu. Dù vậy, tôi vẫn ngạc nhiên khi Sean chặn tôi lại ở bàn đọc sách.

“Tiến sĩ Bishop, chồng tài liệu của cậu cao quá đấy,” anh ta thì thầm, giọng thoáng vẻ tinh quái. Mặt trước chiếc áo len có họa tiết hình quả trám của anh chàng in hằn những vệt sọc của dây buộc sách bằng da cũ, và anh ta còn cố tình chà xát thêm vào ngực áo. Một lọn tóc hung hung xòa xuống trán anh ta.

“Cảm ơn,” tôi nói, tặng anh ta một nụ cười biết ơn. Tôi đang trắng trợn phớt lờ đi các quy định về số lượng sách mà một học giả được phép yêu cầu trong một ngày. Sean – anh bạn thường uống cùng tôi trong cái quán rượu trát ve màu hồng bên kia đường vào những ngày chúng tôi là sinh viên mới tốt nghiệp – vẫn đáp ứng các yêu cầu của tôi mà không hề phàn nàn gì suốt hơn một tuần lễ qua. “Mà đừng có gọi tớ là tiến sĩ Bishop nữa. Tớ cứ nghĩ là cậu đang nói chuyện với một người nào khác cơ đấy.”

Anh chàng nhoẻn miệng cười và lia những cuốn cổ thư ngang qua mặt bàn gỗ sồi đã sờn nhẵn. Tất cả chúng đều chứa những mẫu minh họa về thuật giả kim quý báu, và mỗi cuốn lại được nhét trong một hộp bìa các tông gỗ màu xám. “Ôi, còn kia nữa kìa.” Sean biến vào trong một lát và trở lại với một tập cổ thư dày, khổ lớn bọc trong bìa da dê lốm đốm. Anh ta đặt nó lên trên cùng chồng sách và khom lưng xuống để kiểm tra. Vành kính mỏng màu vàng kim của anh ta lấp lánh trong ánh sáng lờ mờ từ chiếc đèn đọc sách cũ kĩ bằng đồng được dính chặt trên một cái giá. “Cuốn này đã không được yêu cầu lâu rồi. Sau khi cậu trả lại, tớ sẽ ghi chú nó cần được đóng hộp.”

“Cậu có muốn tớ nhắc cậu nhớ không?”

“Không. Nó đã được ghi chú vào đây rồi.” Sean gõ mấy ngón tay lên đầu. “Bộ não cậu chắc chắn là được tổ chức tốt hơn tớ nhỉ.” Tôi cười xòa.

Sean cười ngượng ngùng nhìn tôi và giật tờ phiếu đăng kí sách, nhưng vẫn cứ trơ ì ra kẹp giữa bìa sách và mấy trang đầu. “Cái thứ này chẳng chịu nhúc nhích,” anh chàng bình luận.

Thình lình, có tiếng nói nào đó bị bóp nghẹn liến thoắng vang lên trong tai tôi, phá tan sự yên tĩnh quen thuộc của căn phòng.

“Cậu có nghe thấy gì không?” Tôi nhìn quanh, bối rối trước những âm thanh kì lạ. “Gì cơ?” Sean hỏi, rời mắt khỏi cuốn cổ thư ngẩng lên nhìn.

Mấy vệt sáng như mạ vàng lóe lên dọc theo mép cuốn cổ thư đập vào mắt tôi. Nhưng ánh vàng lờ mờ ấy ngay lập tức bị át đi bởi ánh sáng ngũ sắc lấp lánh dường như đang thoát ra từ các trang giấy. Tôi chớp mắt.

“Không có gì.” Tôi hấp tấp kéo cuốn cổ thư về phía mình, làn da tôi chợt râm ran tê như kiến bò khi chạm tấm da bìa. Mấy ngón tay của Sean vẫn đang cầm vào mảnh phiếu đăng kí sách, bây giờ thì nó lại dễ dàng trượt ra khỏi chỗ bị kẹp. Tôi vừa vòng tay nâng bổng cả chồng cổ thư và kẹp chúng dưới cằm thì một luồng khí kỳ lạ xộc tới cuốn phăng đi mùi bào bút chì và sáp cọ sàn quen thuộc trong thư viện.

“Diana? Cậu ổn chứ?” Sean hỏi, nhíu mày lo lắng.

“Ổn mà. Tớ chỉ hơi mệt một chút thôi,” Tôi đáp, hạ thấp mấy cuốn sách xuống cách xa mũi mình.

Tôi nhanh chóng rảo bước xuyên qua khu vực cổ nhất của thư viện có từ thế kỉ mười lăm, ngang qua dãy bàn đọc có từ thời Elizabeth với ba kệ sách xếp từ thấp đến cao cùng những mặt bàn đã bị viết vẽ sứt sẹo. Giữa các dãy bàn, những khung cửa sổ Gothic hướng sự chú ý của người đọc lên những vòm trần được sơn vẽ và mạ vàng sáng loáng, làm nổi bật các họa tiết chiếc huy hiệu ba vương miện của trường đại học và một cuốn sách để mở với câu giáo điều được tuyên đọc lặp đi lặp lại từ vòm trần cao: “Chúa khai sáng đời con.”

Một học giả người Mỹ khác, Gillian Chamberlain, là người bầu bạn duy nhất của tôi trong thư viện tối nay. Là một nhà cổ điển dạy học ở Bryn Mawr, Gillian dành thời gian miệt mài nghiền ngẫm các mảnh giấy papyrus được kẹp giữa những tấm kính. Tôi tăng tốc đi ngang qua cô ta, cố tránh chạm mắt, nhưng tiếng cọt kẹt của sàn nhà đã phản lại tôi.

Như thưởng lệ, làn da tôi lại râm ran ngứa khi một phù thủy khác nhìn tôi.

“Diana à?” cô ta cất tiếng gọi từ trong ánh sáng lờ mờ. Tôi nén một tiếng thở dài và dừng lại.

“Chào Gillian.” Muốn giữ riêng số cổ thư quý giá, nên tôi duy trì một khoảng cách đủ xa với cô phù thủy này và cố đừng nghiêng mình hết sức có thể để các cuốn sách nằm ngoài tầm nhìn của cô ta.

“Cô sẽ làm gì trong lễ Mabon?” Gillian vẫn thường dừng lại ở bàn của tôi để đề nghị tôi dành thời gian cho “những người chị em” của mình khi ở trong thị trấn. Nhân lễ hội của giáo phái Wiccan vào dịp Thu phân trong vài ngày tới, cô ta đang nỗ lực gấp đôi để cố đưa tôi vào hội các phù thủy Oxford.

“Làm việc,” tôi nói gọn lỏn.

“Có một số phù thủy rất tốt bụng ở đây, cô biết đấy,” Gillian nói với vẻ rất không bằng lòng. “Cô thật sự nên tham gia với chúng tôi vào thứ Hai này.”

“Cảm ơn. Tôi sẽ suy nghĩ về điều đó,” tôi vừa nói vừa đi sang khu Selden End, một khu vực thoáng đãng được xây thêm từ thế kỉ mười bảy chạy cắt vuông góc với khu Công tước Humfrey cổ kính. “Dù sao tôi cũng đang chuẩn bị tài liệu hội thảo, vậy nên chưa chắc tôi đã tham dự được đâu.” Dì Sarah vẫn thường nhắc tôi một phù thủy không thể nói dối một phù thủy khác, nhưng điều đó cũng chẳng ngăn tôi cố thử.

Gillian buộc ra một tiếng tỏ vẻ cảm thông, nhưng mắt vẫn dõi theo tôi.

Trở lại chỗ ngồi quen thuộc nhìn ra những ô cửa sổ hình vòm lợp chì, tôi chỉ muốn vứt phịch cả chồng cổ thư lên bàn và lau sạch hai bàn tay. Nhưng ý thức rõ ràng về tuổi thọ của chúng, tôi thận trọng hạ thấp chồng sách xuống.

Cuốn cổ thư có kẹp tờ phiếu yêu cầu nằm ở trên cùng chồng sách. Xi gắn mạ vàng ở gáy sách là huy hiệu thuộc về Elias Ashmole, một nhà sưu tầm sách thế kỉ mười bảy và là nhà giả kim, chủ nhân của những cuốn sách và các bản thảo được chuyển từ viện bảo tàng Ashmolean đến thư viện Bodleian vào thế kỉ mười chín, với số hiệu 782. Tôi với tay chạm vào tấm bìa da nâu.

Một cơn chấn động nhẹ khiến tôi rụt vội các ngón tay lại, nhưng vẫn không dủ nhanh. Cảm giác râm ran tê buốt chạy ngược lên hai cánh tay, khiến tôi nổi cả da gà, rồi nó lan qua hai bờ vai, làm các cơ ở lưng và cổ tôi căng cứng lại. Cảm giác này nhanh chóng dịu đi, nhưng chúng để lại sự trống trải của niềm khao khát chưa được thỏa mãn. Rùng mình trước phản ứng của bản thân, tôi vội lùi xa khỏi cái bàn.

Ngay cả khi đã ở một khoảng cách an toàn, cuốn cổ thư này vẫn đang khiêu khích tôi – đe dọa những bức tường mà tôi đã dựng lên để ngăn cách giữa sự nghiệp học giả của mình với vai trò là hậu duệ cuối cùng của dòng họ phù thủy Bishop. Ở đây, với thu nhập cứng của học vị tiến sĩ, được bổ nhiệm giảng dạy và cơ hội thẳng tiến trong tầm tay, sự nghiệp của tôi đang bắt đầu thăng hoa, tôi đã từ chối thừa kế gia tộc và tự tạo ra cuộc sống bằng những năng lực hợp lý và học vấn của mình, chứ không phải bằng những linh cảm và các câu thần chú kì bí. Tôi ở Oxford để hoàn tất một đề tài nghiên cứu. Tùy thuộc vào kết luận sau cùng, các kết quả tôi thu thập sẽ được xuất bản, được minh chứng bằng các phân tích khái quát và chú thích chân trang, để giới thiệu tới các đồng sự loài người, sẽ không còn chỗ cho sự bí ẩn và những thứ chỉ có thể nhận biết bằng giác quan thứ sáu của phù thủy.

Nhưng mặc dù không chủ tâm, tôi đã yêu cầu một cuốn cổ thư về thuật giả kim để phục vụ cho nghiên cứu của mình. Dẫu vậy, dường như nó cũng sở hữu một sức mạnh khác thường không thể làm ngơ. Các ngón tay của tôi khao khát muốn mở cuốn sách ra và khám phá nó. Nhưng một sự thôi thúc mãnh liệt hơn đã ngăn cản tôi lại: Sự tò mò của tôi có liên quan tới trí tuệ học thuật không? Hay nó liên quan tới mối dây ràng buộc của gia tộc tôi với phép thuật phù thủy?

Tôi hít bầu không khí quen thuộc của thư viện vào đầy hai lá phổi rồi nhắm mắt lại, hy vọng nó sẽ giúp tôi tỉnh táo hơn. Bodleian luôn luôn là chốn thiêng liêng đối với tôi, một nơi không liên quan gì với nhà Bishop. Run rẩy thu mình lại, tôi nhìn chằm chằm vào cuốn Ashmole 782 trong ánh chiều nhập nhoạng đang ngày một tối dần và băn khoăn không biết phải làm gì.

Mẹ tôi, theo bản năng, sẽ biết được câu trả lời, nếu bà ở vào vị trí của tôi. Hầu hết các thành viên trong gia tộc Bishop đều là những phù thủy tài năng, nhưng mẹ Rebecca của tôi là một nhân vật đặc biệt. Mọi người đều nói thế. Năng lực siêu nhiên của bà sớm bộc lộ. Từ thời còn ngồi trên ghế nhà trường, bà đã có thể thi triển phép thuật xuất chúng hơn hẳn so với hầu hết các phù thủy cao niên trong hội đồng phù thủy địa phương nhờ khả năng trực cảm những câu thần chú, khả năng tiên tri đáng kinh ngạc và sở trường kỳ lạ trong việc đoán định rõ nội hàm của sự vật, sự việc và con người. Em gái của mẹ – dì Sarah – cũng là một phù thủy lão luyện, nhưng tài năng của dì có sự định hướng rõ hơn: dì có bàn tay pha chế độc dược tài ba và khả năng làm chủ hoàn hảo những tri thức truyền thống của xưa của giới phù thủy với bùa mê và thần chú.

Các sử gia là đồng sự của tôi dĩ nhiên đều không biết gì về gia tộc tôi, nhưng mọi người ở Madison – một thị trấn xa xôi hẻo lánh phía trên bang New York nơi tôi sinh sống với dì Sarah từ năm lên bảy tuối – thì đều biết về nhà Bishop. Tổ tiên của tôi từ bang Massachusetts đã chuyển đến đây sau cuộc cách mạng giành độc lập. Lúc đó cũng đã hơn một thế kỉ trôi qua kể từ khi cụ tổ Bridget Bishop[1] bị xử tử ở Salem. Dù vậy, những lời đồn đại và chuyện ngồi lê đôi mách vẫn đeo bám theo tổ tiên tôi khi họ tới nơi ở mới này. Sau khi thu vén và tái định cư ở Madison, gia tộc Bishop đã làm việc chăm chỉ để chứng tỏ cho cư dân ở đây thấy hữu ích đến mức nào khi có được những người hàng xóm là phù thủy giúp họ chữa lành bệnh tật khi ốm đau và dự báo về thời tiết. Gia đình tôi đã kịp thời ổn định và cắm rễ sâu trong cộng đồng dân cư ở đây đủ để chống chọi được trước những cuộc nổi loạn không thể tránh khỏi do thói mê tín và nỗi sợ hãi của con người.

[1. Năm 1692, một nhóm phụ nữ ở làng Salem, bang Massachusetts đã lâm vào những cơn đau đớn kỳ lạ sau khi nghe những câu chuyện do một người nô lệ da đỏ miền Tây kể lại. Họ đã kết tội những người phụ nữ ấy là phù thủy. Dân thị trấn thấy khiếp sợ nhưng không hề kinh ngạc bởi niềm tin vào phép thuật phù thủy đã lan rộng ở cả Mỹ và châu Âu suốt thế kỉ XVII. Giới chức thị trấn đã triệu tập một phiên tòa để phân xử những lời cáo buộc về phép thuật. Bridget Bishop là người phụ nữ đầu tiên bị kết tội và bị xử tử. Trong vòng một tháng, năm phụ nữ nữa cũng bị treo cổ với cùng tội danh.]

Nhưng mẹ tôi lại tò mò về thế giới, điều đó đã dẫn dắt bà rời xa khỏi sự an toàn của Madison. Đầu tiên bà tới Havard, và ở đó bà gặp một pháp sư trẻ tên là Stephen Proctor. Ông cũng xuất thân từ môt dòng dõi pháp thuật lâu đời và khao khát trải nghiệm cuộc sống bên ngoài phạm vi lịch sử và ảnh hưởng của gia tộc. Rebecca Bishop và Stephen Proctor là một cặp đôi đầy quyến rũ, bản tính ngay thẳng bộc trực kiểu Mỹ của mẹ tôi là một đối trọng với lối sống khuôn phép, cổ điển của bố tôi. Họ trở thành những nhà nhân loại học, đắm mình vào các tín ngưỡng và những nền văn hóa nước ngoài, chia sẻ với nhau niềm say mê mang tính trí tuệ cùng lòng nhiệt huyết sâu sắc. Sau khi có những vị trí vững vàng tại các trường trong vùng - mẹ tôi thì ở trường của bà, còn bố tôi thì ở Wellesley - họ tiến hành những chuyến nghiên cứu ra nước ngoài và có một mái ấm gia đình mới ở Cambridge.

Tôi có rất ít những ký ức về thời thơ ấu, nhưng mỗi hồi ức lại rực rỡ màu sắc và trong sáng đến ngạc nhiên. Cảm giác mềm mại như nhung trên khuỷu tay bố, mùi nước hoa lan chuông mà mẹ thường xức, tiếng lanh canh của những ly rượu vang vào các tối thứ Sáu khi bố mẹ đã đưa tôi lên giường đi ngủ và cùng nhau thưởng thức rượu bên ánh nến lung linh. Mẹ kể cho tôi nghe các câu chuyện trước khi đi ngủ, và tiếng vang khi bố thả chiếc cặp đựng tài liệu màu nâu xuống cạnh cửa nhà. Những kỷ niệm này có lẽ sẽ đánh trúng vào các cung cảm xúc thân thương đối với hầu hết mỗi người.

Nhưng những hồi ức khác về bố mẹ tôi thì không như thế. Mẹ tôi dường như chẳng bao giờ làm công việc giặt là, nhưng quần áo của tôi luôn luôn sạch sẽ và được gấp gọn gàng. Tờ giấy cho phép tham gia chuyến dã ngoại tới công viên bị bỏ quên đột nhiên xuất hiện trên bàn học của tôi khi thầy giáo đến thu lại. Và phòng làm việc của bố khi tôi hôn chúc ông ngủ ngon lúc nào cũng trong tình trạng như vừa có một vụ nổ xảy ra ở đấy, thì sáng hôm sau nó luôn ngăn nắp, gọn gàng một cách hoàn hảo. Ở nhà trẻ, tôi đã hỏi bạn bè là tại sao mẹ Amanda cứ than phiền về việc rửa bát đĩa bằng xà phòng và nước, trong khi chỉ cần tống chúng vào bồn rửa, búng ngón tay rồi thầm nói vài lời là xong. Cô Schmidt đã bật cười trước ý tưởng kỳ lạ đó của tôi, nhưng đồng thời mắt cô ấy tối sầm lại vẻ bối rối.

Tối hôm đó, bố mẹ bảo với tôi rằng chúng tôi phải cẩn thận trong việc nói về phép thuật và với ai thì chúng tôi được bàn luận về phép thuật. Con người đông hơn chúng tôi và họ sợ quyền năng của chúng tôi, mẹ đã giải thích như thế, và nỗi sợ hãi là thế lực mạnh nhất trên trái đất. Vào lúc đó tôi đã không dám thú nhận rằng phép thuật - đặc biệt là phép thuật của mẹ - cũng khiến tôi sợ hãi.

Ban ngày, mẹ tôi trông cũng giống như mọi bà mẹ khác ở Cambridge: hơi luộm thuộm, hơi lôi thôi, và thường xuyên bị áp lực gia đình cùng công việc quấy rầy. Mái tóc vàng chải rối hợp thời trang mặc dù quần áo bà mặc vẫn như ở năm 1977 – những chiếc váy dài nhiều li, quần dài và áo sơ mi ngoại cỡ, rồi các bộ vest nam và áo cộc tay đồng phục mà bà kiếm về từ mấy cửa hiệu đồ hạ giá trên khắp cả chiều dài và chiều rộng của Boston ăn theo phim Annie Hall[2]. Chẳng có gì ở mẹ tôi có thể khiến bạn muốn ngoái nhìn lại nếu bạn đi ngang qua bà trên đường phố hay đứng xếp hàng sau bà trong siêu thị.


[2. Annie Hall: Là bộ phim hài nổi tiếng của đạo diễn người Mỹ Woody Allen, sản xuất năm 1977. Phim từng giành được bốn giải thưởng Oscar, trong đó có phim dành cho phim xuất sắc nhất.]

Nhưng ở nhà tôi, khi những tấm rèn đã được kéo kín và cửa ra vào đã được khóa chặt, mẹ tôi vụt trở thành một con người khác hẳn. Mỗi chuyển động của bà toát lên vẻ tự tin và chắc chắn, không vội vã, không mệt mỏi. Thỉnh thoảng bà thậm chí còn trông như đang trôi bồng bềnh trong không trung. Khi đi quanh nhà, mẹ tôi vừa hát vừa nhấc bổng mấy con thú nhồi bông và các cuốn sách lên, nét mặt bà từ từ chuyển sang một vẻ gì đó thoát tục và lộng lẫy. Khi mẹ tôi đang say sưa với các phép màu thì bạn không thể nào rời mắt khỏi bà được.

“Mẹ con có một quả pháo hạng sang trong mình đấy,” bố tôi thường nói thế với một nụ cười rạng rỡ khoan dung. Nhưng những quả pháo sáng đó, theo tôi hiểu, thì không đơn giản chỉ phát sáng và sống động. Chúng thật khó lường và có thể làm bạn giật mình sợ hãi.

Vào một buổi tối, bố tôi có bài giảng ở trường, hôm đó mẹ quyết định lau chùi đồ dùng bằng bạc và bà bị thôi miên bên một bát nước đặt trên bàn phòng khách. Khi mẹ tôi nhìn chăm chăm vào mặt nước trong như gương, nó bắt đầu bao phủ một lớp sương, rồi màn sương đó xoắn lại với nhau thành những hình thù ma quái nhỏ tí xíu. Tôi há hốc miệng ngạc nhiên khi chúng lớn dần, những thực tế to lớn dị thường ấy dần lấp đầy căn phòng. Chẳng mấy chốc chúng trườn lên cả những tấm rèn và bám chặt vào trần nhà. Tôi khóc thét lên cầu cứu mẹ, nhưng bà vẫn chăm chú tập trung vào bát nước. Sức tập trung của mẹ không hề dao động cho tới khi một thứ nửa người, nửa thú trườn đến gần tôi rồi cặp chặt lấy cánh tay tôi đau đớn. Đến lúc đó mẹ tôi mới thoát khỏi cơn mơ màng, bà làm bùng nổ ra cơn mưa ánh sáng đỏ rực giận dữ đánh lùi những bóng ma và để lại một mùi khét lẹt như da cháy bay khắp nhà. Bố tôi nhận ra mùi hương lạ đó ngay khi về đến nhà, ông hốt hoảng tìm quanh và thấy hai mẹ con đang co cụm với nhau ở trên giường. Trước ánh nhìn của bố, mẹ tôi bật khóc đầy hối lỗi. Tôi không bao giờ còn cảm thấy được an toàn khi ở trong phòng khách nữa.

Và bất cứ cảm giác an toàn nào còn sót lại đều bốc hơi hết sau khi tôi lên bảy tuổi, bố mẹ tôi tới châu Phi và không còn sống sót trở về.

Tôi rùng mình, tập trung trở lại vấn đề tiến thoái lưỡng nan mà mình phải đối diện. Cuốn cổ thư đặt trên mặt bàn thư viện trong vùng ánh sáng của ngọn đèn. Ma lực của nó lôi kéo điều gì đó đen tối và gai góc trong tôi. Các ngón tay của tôi quay lại với lớp bìa da mềm mại. Lần này cảm giác tê tê như kiến bò đã trở nên quen thuộc hơn. Tôi ngờ ngợ nhớ trước đây mình đã có lần trải qua cảm giác y như thế này, khi tôi nhìn lướt thấy vài trang giấy giống như vậy trên bàn trong phòng làm việc của bố.

Kiên quyết tránh xa khỏi cuốn cổ thư bọc da, tôi làm cho mình bận bịu với mấy việc có tính lý trí hơn: tra cứu danh sách các bản văn về thuật giả kim mà tôi đã lập ra trước khi rời New Haven. Nó nằm trên bàn, bị lấp dưới cả đống giấy tờ, phiếu mượn sách, biên lai, bút chì, bút mực và bản đồ thư viện, nó được xếp gọn gàng thành tập và được thủ thư sắp theo

các số ấn định cho mỗi văn bản khi vào tới Bodlien. Vì mới đến đây vài tuần, tôi vẫn đang kiểm tra cái danh sách đó theo thứ tự. Phần miêu tả nội dung dành cho Ashmole 782 có ghi: “Nhân loại học hay luận thuyết bao hàm một mô tả ngắn về Con người ở hai phần: Giải phẫu và Tâm lý.” Cũng như hầu hết các cuốn cổ thư mà tôi đã nghiên cứu, chẳng có gì ở tiêu đề cho biết nội dung bên trong cả.

Các ngón tay có thể nói cho tôi biết về cuốn sách mà thậm chí không cần hé mở bìa sách ra. Dì Sarah luôn dùng ngón tay để tìm xem có gì trong thư trước khi mở nó, phòng khi trong phong bì có một cái hóa đơn mà dì không muốn thanh toán. Với cách đó dì có thể bào chữa cho sự vô tội của mình, khi chuyện vỡ lở ra là dì còn nợ tiền công ty cung cấp điện.

Những con số mạ vàng trên gáy cuốn cổ thư nhấp nháy. Tôi ngồi xuống và cân nhắc các lựa chọn.
Phớt lờ đi ma lực đó, mở cuốn cổ thư ra và cố gắng đọc nó như một học giả con người? Hay là gạt cuốn sách phù thủy đó sang một bên và bỏ đi?
Dì Sarah sẽ cười như nắc nẻ nếu biết được tình huống khốn khổ này của tôi. Dì vẫn luôn khăng khăng cho rằng các nỗ lực để kiềm giữ pháp thuật của tôi là chuyện vô ích. Nhưng tôi đã làm như thế từ đám tang của bố mẹ. Những phù thủy có mặt trong số quan khách nhìn tôi chằm chằm dò xét mong tìm ra các dấu hiệu cho thấy dòng máu Bishop và Proctor đang chảy trong huyết quản của tôi. Tất cả bọn họ đều thế, vừa vỗ về tôi động viên vừa xét đoán rằng mọi việc chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi tôi thay thế vị trí của mẹ trong hội đồng phù thủy địa phương. Một vài phù thủy lại thì thầm về nỗi hoài nghi của họ trước sự sáng suốt của bố mẹ tôi khi đi đến hôn nhân.

“Quá nhiều sức mạnh,” họ thì thầm khi nghĩ rằng tôi không nghe thấy. “Họ chắc chắn là quá thu hút sự chú ý – cho dù họ có không nghiên cứu về thứ tín ngưỡng thiêng liêng cổ xưa đó đi nữa.”

Chuyện này là quá đủ để khiến tôi đổ lỗi cho năng lực siêu nhiên đã gây nên cái chết của bố mẹ, thứ năng lực mà họ đã vận dụng và nghiên cứu để tìm kiếm một lối sống mới. Quay lưng lại với mọi thứ liên quan tới pháp thuật, tôi vùi mình vào cuộc sống tuổi trẻ như những con người khác – ngựa, bạn trai và tiểu thuyết lãng mạn – tôi cố gắng hòa mình với những cư dân bình thường của thị trấn này. Ở tuổi dậy thì tôi cũng gặp rắc rối với những nỗi phiền muộn và lo lắng. Nhưng rồi tất cả đều rất bình thường – ông bác sĩ loài người tốt bụng đã cam đoan với dì tôi như thế.

Dì Sarah không kể cho ông ấy biết về những giọng nói, về thói quen nhấc điện thoại vừa khít trước khi chuông reo, hay dì đã phải yểm bùa lên cửa ra vào và cửa sổ khi trăng tròn để ngăn không cho tôi mộng du đi vào rừng. Dì cũng không đả động đến chuyện khi tôi nổi giận thì tất cả các ghế trong nhà sẽ tự sắp xếp lại thành một cái kim tử tháp chông chênh trước lúc đổ sập xuống sàn lúc tâm trạng tôi đã nguôi ngoai.


Khi tôi bước sang tuổi mười ba, dì quyết định đã đến lúc hướng sức mạnh của tôi vào việc học các phép phù thủy cơ bản. Thắp nến bằng vài lời thì thẩm hay giấu đi mấy nốt mụn bằng một thứ nước phép đã có công thức trước – đó là các bước dạo đầu bình thường của một phù thủy thiếu niên. Nhưng tôi lại không thể nắm bắt được dù là câu thần chú đơn giản nhất, tôi làm cháy mọi loại nước phép mà dì dạy, và bướng bỉnh không chịu làm các bài kiểm tra của dì nhằm xác định xem tôi có thừa kế được nhãn quang thứ hai chuẩn xác lạ thường như mẹ tôi không.

Những giọng nói, những ngọn lửa và những cơn bùng nổ bất chợt giảm bớt đi khi các hormon của tôi lắng xuống, nhưng sự thiếu thiện ý trong việc học hỏi truyền thống gia đình thì vẫn còn. Chuyện đó khiến dì Sarah vô cùng lo lắng khi trong nhà có một phù thủy không được rèn giũa. Và rồi dì chỉ được nhẹ nhõm đi đôi chút khi gửi tôi tới một trường đại học ở Maine. Ngoại trừ chuyện phép thuật ra, thì đó là một câu chuyện điển hình ở độ tuổi ấy.

Thứ khiến tôi rời xa Madison chính là trí tuệ của mình. Nó luôn luôn bộc lộ sớm khiến tôi biết nói và biết đọc trước những đứa trẻ cùng tuổi khác. Trí nhớ sao chụp phi thường đã khiến cho việc nhớ bài trong sách giáo khoa đối với tôi thật dễ dàng, và tôi chỉ việc trình bày các thông tin được yêu cầu lên bài kiểm tra là xong. Việc học hành dựa trên những năng lực phép thuật thừa hưởng từ gia tộc khiến tôi cảm thấy không thích đáng. Tôi bỏ qua các năm cuối trung học và bắt đầu học đại học ở tuổi mười sáu.

Ở đó, nỗ lực đầu tiên của tôi là cố tạo dựng một vị trí trong chuyên ngành kịch nói ở trường. Óc tưởng tượng của tôi vẽ nên các phông nền sân khấu và phục trang diễn viên, còn tâm trí tôi say sưa với việc làm sao để những ngôn từ của tác giả có thể gợi lên được khung cảnh ở nhiều nơi và nhiều thời đại khác nhau. Vài lần trình diễn đầu tiên của tôi được các giáo sư tuyên bố như là những ví dụ phi thường cho lối diễn xuất tuyệt vời có thể biến một sinh viên đại học bình thường trở thành một con người khác. Dấu hiệu đầu tiên của những biến đổi thể chất này (mà có lẽ nó chẳng phải là kết quả của tài năng diễn xuất) xuất hiện từ khi tôi đóng vai Ophelia trong vở Hamlet. Ngay khi tôi nhận được vai diễn, tóc tôi bắt đầu dài ra với tốc độ không bình thường, rồi đổ dài từ vai xuống tận eo lưng. Tôi đã ngồi hàng giờ đồng hồ bên hồ nước trong trường với mái tóc xõa ra quanh mình, bị cuốn hút như thôi miên trước vẻ óng ả của nó. Chàng trai đóng vai Hamlet bắt đầu bị lôi cuốn vào ảo giác đó và chúng tôi đã có một cuộc tình say đắm chớp nhoáng mạo hiểm. Từ từ tôi hóa thân vào cơn điên loạn của Ophelia và sống trọn phần còn lại của vai diễn.

Có lẽ tôi đã có những màn trình diễn đầy mê hoặc, nhưng mỗi vai diễn mới lại mang tới những thử thách mới mẻ khác. Vào năm thứ hai, tình trạng đó trở thành chuyện không thể ngừng được khi tôi được phân vai Annabella trong vở ‘Tis Pity She‘s a Whore[3] của John Ford. Giống như nhân vật này, tôi đã hấp dẫn cả một đoàn người cầu hôn nhiệt tình sốt sắng – không phải tất cả đều là con người – họ bám theo tôi khắp trường. Khi họ vẫn không chịu để cho tôi yên sau khi vở kịch đã hạ màn thì rõ ràng cho dù thứ bộc phát ra là gì đi nữa đều đã vượt ngoài tầm kiểm soát. Tôi không biết chắc phép thuật đã lọt vào phần diễn xuất của tôi như thế nào, và tôi cũng không muốn tìm hiểu chuyện đó. Tôi cắt tóc ngắn. Thôi không mặc váy hoa và đi giày cao gót nữa, tôi chuyển sang áo cổ lọ màu đen, quần vải kaki, giày lười mà những sinh viên hướng nghiệp khoa luật đầy tham vọng và đáng tin cậy hay mặc. Phần năng lượng thừa mứa tôi chuyển vào các môn điền kinh.

[3. Tạm dịch: Thật tiếc cô ta là gái điếm – một vở bi kịch được trình diễn lần đầu vào khoảng năm 1629 - 1633.]

Sau khi rời khỏi khoa kịch, tôi nỗ lực thử sức thêm vài chuyên ngành nữa, tìm kiếm một lĩnh vực thật lý tính để không bao giờ còn một centimet vuông trống nào dành cho phép thuật cả. Tôi thiếu tính tỉ mỉ chính xác và sự nhẫn nại đối với toán học, và các nỗ lực của tôi ở chuyên ngành sinh vật học là một thảm họa với các bài kiểm tra thất bại và những cuộc thí nghiệm không thể hoàn thành.

Cuối năm thứ hai, cán bộ phòng đào tạo yêu cầu tôi phải lựa chọn một chuyên ngành, nếu không tôi sẽ phải đối mặt với việc học thêm năm thứ năm đại học. Chương trình nghiên cứu mùa hè ở miền Nam vương quốc Anh cho tôi cơ hội tránh xa được tất cả những thứ liên quan đến nhà Bishop. Tôi đã phải lòng Oxford, phải lòng ánh sáng rực rỡ thanh bình của đường phố nơi đây mỗi bình minh. Các khóa học lịch sử của tôi phủ đầy những kì tích của các ông chúa bà hoàng, và giọng nói duy nhất trong đầu tôi là những tiếng thì thầm của các cuốn sách được viết từ thế kỉ mười sáu và mười bảy. Điều này hoàn toàn có thể quy cho nguyên do đó là các kiệt tác văn học. Nhưng hay hơn cả là không có ai ở thành phố của những trường đại học này biết về tôi, và nếu có các phù thủy trong thành phố vào mùa hè đó thì họ đều giữ một khoảng cách rất tuyệt vời với tôi. Tôi trở về nhà, tuyên bố chuyên ngành là lịch sự học, hoàn thành tất cả các khóa học theo yêu cầu trong một thời gian kỷ lục, và tốt nghiệp bằng danh dự trước khi bước sang tuổi hai mươi.

Khi tôi quyết định theo đuổi học vị tiến sĩ, Oxford là lựa chọn đầu tiên của tôi trong số các chương trình có thể làm luận án. Chuyên ngành của tôi là lịch sử khoa học, các nghiên cứu tập trung vào giai đoạn khi khoa học thay thế cho phép thuật – thời đại mà thuật chiêm tinh và các vụ săn phù thủy chịu đầu hàng trước Newton cùng các quy luật vũ trụ bao la. Nghiên cứu về một trật tự lý tính trong tự nhiên còn hơn là một thứ mang tính siêu nhiên, nó phản ánh những nỗ lực của tôi nhằm tránh xa những thứ diễn ra trong đầu mình và những thứ tôi mang trong dòng máu của mình trở nên rõ ràng dứt khoát hơn.

Dì Sarah của tôi đã khịt mũi tỏ vẻ coi thường khi nghe nói đến quyết định của tôi đi chuyên sâu vào hóa học thế kỉ mười bảy. Mái tóc đỏ rực của dì là dấu hiệu cho biết tính tình nóng nảy và miệng lưỡi chua cay của chủ nhân nó. Dì là một phù thủy ăn nói bộc trực, thẳng thắn, kiểu người điều khiển cả một căn phòng ngay khi mới bước chân vào. Là một trụ cột của cộng đồng dân cư ở Madison, dì Sarah thường hay được gọi đến để giải quyết mọi thứ khi có khủng hoảng, dù lớn hay nhỏ, trong thị trấn. Bây giờ chúng tôi có mối quan hệ giao thiệp tốt hơn nên tôi không còn phải chịu đựng một liều lượng đều đều mỗi ngày những cuộc nói chuyện chua cay của dì về sự mong manh yếu đuối và thói tiền hậu bất nhất của loài người.

Mặc dù chúng tôi đã cách xa nhau hàng trăm dặm, nhưng dì Sarah vẫn nghĩ những cố gắng gần đây nhất của tôi để tránh né phép thuật là trò nực cười. “Chúng ta đã từng gọi đó là thuật giả kim,” dì nói. “Có rất nhiều phép thuật ở trong đó đấy!”

“Không, không có,” tôi nóng nảy phản đối. Toàn bộ mục đích công trình nghiên cứu của tôi là nhằm chỉ ra rằng việc theo đuổi này thực sự mang tính khoa học như thế nào. “Thuật giả kim nói cho chúng ta biết về sự phát triển của hình thức thí nghiệm, chứ không phải việc kiếm tìm đá tạo vàng, ma thuật biến chì thành vàng và khiến người ta trở nên bất tử!”

“Nếu cháu nói vậy,” dì Sarah đáp đầy hoài nghi. “Nhưng đó là một chủ đề khá lạ lẫm để lựa chọn nếu cháu đang cố gắng tỏ ra giống loài người.”

Sau khi kiếm được tấm bằng học vị, tôi đã chiến đấu ác liệt để dành một vị trí giảng dạy trong khoa của Đại học Yale, nơi duy nhất có tính chất Anh còn hơn cả nước Anh. Các đồng nghiệp cảnh báo rằng tôi có ít cơ hội để giành được vị trí đó. Tôi cho ra đời hai cuốn sách, giành được một ôm giải thưởng, và thu được một vài thành công trong nghiên cứu. Thế rồi tôi nhận được vị trí bổ nhiệm ấy và chứng minh cho mọi người thấy là họ đã sai.

Quan trọng hơn, cuộc sống của tôi giờ là của riêng tôi. Không có ai trong khoa tỏ vẻ nghi ngờ, thậm chí ngay cả các sử gia về thời kì đầu của nước Mỹ cũng chỉ thấy họ của tôi giống với họ của người phụ nữ đầu tiên ở Salem bị xử tử vì tội dùng tà thuật vào năm 1692. Để bảo vệ cho quyền tự chủ khó khăn lắm mới giảng được của mình, tôi tiếp tục giữ cho mọi dấu vết của phép thuật hay tà thuật tránh xa khỏi cuộc đời mình. Dĩ nhiên cũng có những ngoại lệ, giống như lần tôi đã dùng một trong những bùa chú của dì Sarah khi cái máy giặt không ngừng đổ đầy nước de dọa làm ngập lụt cả căn hộ nhỏ của tôi ở quảng trường Wooster. Có ai trên đời là hoàn hảo đâu!

Lúc này tôi nhận thấy dấu hiệu của sai lầm đang hiện diện, tôi nín thở, cầm lấy cuốn cổ thư bằng cả hai tay và đặt nó vào một trong những cái giá đỡ hình chữ V mà thư viện cung cấp để bảo vệ những cuốn sách quý hiếm. Tôi đã quyết định hành xử như một học giả nghiêm túc và đối xử với cuốn Ashmole 782 này giống như một cuốn cổ thư bình thường. Tôi phớt lờ đi những đầu ngón tay đang nóng bỏng, thứ mùi kì lạ tỏa ra từ cuốn sách, và phần miêu tả sơ sài trong phần mục lục của nó. Sau đó tôi sẽ quyết định – với sự suy xét hoàn toàn độc lập mang tính chuyên nghiệp – xem liệu nó có đủ hứa hẹn kì vọng để xem xét lâu hơn không. Tuy thế, các ngón tay tôi vẫn run run khi tháo bỏ những cái móc cài nhỏ bằng đồng thau.

Cuốn cổ thư bật ra một tiếng thở dài nhè nhẹ.

Tôi liếc nhanh qua vai để đảm bảo rằng căn phòng vẫn vắng người. Âm thanh duy nhất nữa vang lên là tiếng tích tắc ồn ào của chiếc đồng hồ trong phòng đọc sách.

Quyết định không ghi là “Sách thở dài”, tôi quay sang chiếc máy xách tay mở ra một file văn bản mới. Công việc quen thuộc này – một việc tôi đã làm cả trăm nếu không phải là cả ngàn lần trước đây – cũng dễ chịu như những cái tích đánh dấu gọn gàng trên tờ danh sách kia thôi. Tôi đánh tên cuốn cổ thư, số và sao chép lại tiêu đề từ phần mô tả của catalog. Tôi nhìn kích thước và bìa gáy của nó, ghi lại chi tiết cả hai thông tin này.

Việc duy nhất còn lại là mở cuốn cổ thư ra.

Cái bìa sách thật khó nâng lên, dù các móc cài đã được tháo ra, như là nó bị kẹt dính vào các trang sách bên dưới vậy. Tôi thầm nguyền rủa và áp bàn tay lên tấm bìa da một lúc, hy vọng rằng cuốn Ashmole 782 chỉ đơn thuần cần một cơ hội để hiểu tôi thôi. Việc đặt một bàn tay lên trên một cuốn sách thật sự không phải phép thuật. Lòng bàn tay tôi tê tê, cũng như những lần làn da tôi râm ran tê khi bị một phù thủy nhìn, và sự căng thẳng đọng lại trên cuốn cổ thư. Và rồi, tôi lật giở trang bìa ra thật dễ dàng.

Trang đầu tiên là giấy thô. Trên trang thứ hai, một bản viết trên giấy da, là những lời sau: “Nhân loại học hay luận thuyết bao hàm một mô tả ngắn về Con người,” bằng chữ viết tay của Ashmole. Những đường lượn tròn gần như quen thuộc đối với tôi như kiểu chữ viết thảo của chính tôi vậy. Đoạn tiếp theo của lời tựa “ở hai phần: Giải phẫu và Tâm lý” cũng được viết tay, nhưng bằng bút chì. Nó trông cũng quen quen nhưng tôi không thể nhớ đã gặp ở đâu. Chạm vào dòng chữ viết tay ấy có thể cho tôi vài manh mối, nhưng điều đó là đi ngược lại các quy định của thư viện và chẳng thể chứng minh bằng tài liệu về các thông tin mà tôi thu thập được bằng các ngón tay mình. Thay vào đó tôi viết ghi chú vào file máy tính về cách sử dụng bút mực và bút chì để viết, hai bút tích khác nhau, và ngày tháng có thể của lời đề tặng này.

Khi tôi lật sang trang thứ nhất, bản giấy da có cảm giác nặng nề một cách khác thường và hé lộ bản thân nó chính là nguồn gốc của cái mùi kỳ lạ của cuốn sách. Nó không đơn thuần chỉ là cổ xưa: nó là một thứ gì đó còn hơn thế nữa – một sự kết hợp của cái cần phải xem và mùi xạ hương không tên. Và tôi lập tức nhận ra ba trang giấy trắng đã bị cắt rời ra khỏi gáy sách một cách gọn ghẽ.

Đây rồi, cuối cùng cũng có thứ gì đó dễ miêu tả. Các ngón tay tôi lướt trên những phím chữ: “Ít nhất có ba trang giấy đã bị lấy đi bằng thước kẻ hoặc dao lam.” Tôi nhìn vào rãnh gáy cuốn sách nhưng không thể nói được liệu có còn trang nào bị mất nữa không. Bản giấy da càng để gần mũi tôi thì sức mạnh của cuốn cổ thư càng rõ ràng hơn và mùi hương kỳ lạ làm tôi mất cả lý trí.

Tôi chuyển sự chú ý sang bức hình minh họa đối diện với khoảng trống chỗ các trang sách bị mất. Nó là hình ảnh một bé gái nhỏ xíu đang bồng bềnh trong một cái bình thủy tinh trong suốt. Một bàn tay đứa bé cầm một bông hồng bằng bạc, tay kia cầm một bông hồng bằng vàng. Trên hai bàn chân của nó có những đôi cánh nhỏ xíu, và những giọt chất lỏng màu đỏ tươi chảy xuống từ mái tóc dài đen nhánh của nó. Dưới bức hình là một dòng chú thích được viết bằng mực đen đặc giải thích sơ lược rằng đó là thuật miêu tả về đứa trẻ của triết học – lối trình bày ẩn dụ về một bước then chốt trong việc tạo ra viên đá tạo vàng, loại vật chất hóa học hứa hẹn mang đến cho chủ nhân của nó sức khỏe, sự giàu có và trí tuệ thông thái.

Màu sắc sáng lấp lánh vá bắt mắt được bảo quản rất tốt. Các họa sĩ đã từng trộn lẫn bột đá và bột ngọc vào màu vẽ của họ để tạo ra những sắc màu mạnh mẽ đến thế. Và bản thân hình ảnh này đã được ai đó vẽ bằng tài năng hội họa thật sự. Tôi phải ngồi lên cả hai bàn tay để không cho chúng khám phá thêm điều gì bằng cách chạm vào chỗ này hay chỗ khác trên bức hình.

Nhưng người vẽ hình minh họa này, dù anh ta rõ ràng là rất tài năng, lại vẽ các chi tiết đều sai hết. Cái bình thủy tinh đáng ra phải quay lên trên thì lại lộn xuống dưới. Đứa bé đang lẽ ra phải được vẽ nửa đen, nửa trắng để thể hiện nó là một người lưỡng tính, và đáng lẽ nó phải có cả bộ phận sinh dục của nam và bầu nược của nữ - hoặc tối thiểu có cả hai đầu.

Hình tượng của thuật giả kim là lối nói ẩn dụ, và có tiếng là hay đánh lừa. Đó là lý do vì sao tôi nghiên cứu nó, tìm kiếm những mô hình hé lộ ra một cách tiếp cận có tính hệ thống và hợp lý dẫn tới sự biến đổi các chất hóa học ngày nay trước khi bảng tuần hoàn các nguyên tố của Mendeleev ra đời. Ví dụ như, các hình ảnh về mặt trăng hầu như thường thể hiện cho bạc, trong khi hình ảnh mặt trời thì quy cho vàng. Khi cả hai thứ được kết hợp với nhau về phương diện hóa học thì quá trình n&a

Posted on June 30, 2019 06:57:08 PM


13
50
Donate free




Đăng nhập để tham gia thảo luận! Hoặc bạn có thể bình luận bằng facebook ở dưới.